Take All, Action. Don’t wait it happen, Make It happen

  • Flickr Photos

  • Tháng Một 2007
    H B T N S B C
    « Th12   Th3 »
    1234567
    891011121314
    15161718192021
    22232425262728
    293031  
  • RSS Vietnamnet

    • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

Archive for Tháng Một, 2007

Giá trị của slogan

Posted by powerfulslogan trên Tháng Một 14, 2007

Giá trị của slogan
 
slogan23.jpg

Ông Martin Roll, Tổng giám đốc Công ty VentureRepublic, một công ty Singapore chuyên về tư vấn thương hiệu, thì bản thân slogan không định hướng hay cho rằng tạo tăng trưởng trực tiếp cho doanh nghiệp mà nó đơn thuần chỉ là điểm cuối cùng của công tác marketing.

“Khi doanh nghiệp quyết định chiến lược marketing của mình, họ sẽ sử dụng các thông tin quảng cáo và marketing để thực hiện chiến lược đó, và slogan là một trong những cách để thực hiện chiến lược này”, ông Martin Roll nói.

Phần lớn các chuyên viên marketing đồng ý rằng slogan mang định hướng hay chỉ dấu cho khách hàng nhận biết công ty đang kinh doanh sản phẩm gì. Quan trọng hơn, nó thể hiện phương châm kinh doanh của công ty hoặc mục tiêu của sản phẩm, dịch vụ mà công ty đưa ra trên thị trường. Ví như với slogan “Life’s good” (Cuộc sống tốt đẹp) của hãng sản xuất đồ điện tử, điện lạnh gia dụng LG (Hàn Quốc), theo ông Đặng Ngọc Long, Trưởng phòng quảng cáo Công ty LG Electronics Việt Nam thì nó có ý nghĩa chỉ dấu rằng LG kinh doanh các sản phẩm trang bị cho cuộc sống gia đình, hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn.

Việc xây dựng slogan do đó, có muôn vàn cách thức khác nhau phù hợp để xây dựng nên một slogan. Ông Sean Halliday, Tổng giám đốc Furama Resort cho rằng, slogan phải chứng tỏ dịch vụ của một công ty có nhiều giá trị hoặc giá trị của họ là khác biệt. “Ngành sản xuất thường phải chứng tỏ sản phẩm của họ hội đủ những tiêu chuẩn cần thiết của một ngành hàng và có nhiều lợi ích hơn so với các thương hiệu khác”, ông Halliday nói.

Để xây dựng slogan, trước hết nhà sản xuất phải có định hướng và thay đổi theo “khẩu vị” của khách hàng, tìm hiểu xem họ đang quan tâm đến cái gì. “Trước đây người tiêu dùng Việt Nam chỉ có nhu cầu “ăn chắc, mặc bền” nhưng nay là “ngon và đẹp”. Từ đó nhà sản xuất mới xác định được mục tiêu mà loại sản phẩm cần nhắm tới và slogan sẽ đảm nhiệm vai trò chuyển tải ý định đó tới người tiêu dùng”, ông Long giải thích.

Slogan “Cửa sổ nhìn ra thế giới” của Công ty Cửa sổ nhựa châu Âu (Eurowindow) đã gợi mở cho khách hàng liên tưởng ngay đến sản phẩm cửa sổ của hãng khi có nhu cầu sử dụng. Ông Nguyễn Cảnh Hồng, Tổng giám đốc Eurowindow, nói: “Điều quan trọng là phải xây dựng, duy trì và quảng bá slogan và ngay chính bản thân slogan cũng là một tài sản vô hình”.

Ông Đặng Ngọc Long cũng cho rằng có những doanh nghiệp nhỏ sáng tạo ra slogan ấn tượng của họ nhưng slogan này có “sống” được hay không lại phụ thuộc vào việc duy trì, khuyếch trương nó và đương nhiên chất lượng sản phẩm phải hỗ trợ cho slogan đó. Các hoạt động marketing, hoạt động xã hội đủ mạnh và hiệu quả sẽ hỗ trợ cho “tuổi thọ” của slogan.

Ông Sean Halliday cho rằng một slogan thành công phải mang trong mình thông điệp ấn tượng, khơi gợi được trí tưởng tượng, những ấn tượng đẹp về thương thiệu, và truyền tải một cách hiệu quả chiến lược kinh doanh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp đến khách hàng. Còn ông Martin Roll nhấn mạnh rằng một slogan hiệu quả không chỉ phản ánh bản sắc thương hiệu sản phẩm cụ thể nào đó đối với người tiêu dùng mà còn là công cụ để phân biệt nhãn hiệu trên thị trường bằng việc tạo ra một vị trí độc tôn.

Một yếu tố quan trọng khi vận dụng slogan trong các chiến dịch marketing, theo các chuyên viên nghiên cứu và phát triển thương hiệu, là slogan cũng cần phải thay đổi phù hợp với yêu cầu của từng thị trường ở từng thời điểm. Việc thay đổi cũng phụ thuộc vào tính chất của từng loại sản phẩm và hình thức kinh doanh của chính doanh nghiệp đó. “Một slogan của một công ty có thể thay đổi theo thời gian nào đó nhưng nó không thể thay đổi theo từng quốc gia hay từng đơn vị nhỏ lẻ, nó phải mang tính thị trường và tính toàn cầu của nó”, ông Long nhận xét.

Điển hình là Furama resort. Do đặc thù là kinh doanh dịch vụ nên slogan được thay đổi theo từng thời điểm để phù hợp với từng thời kỳ kinh doanh của Khu nghỉ dưỡng. Ông Sean Halliday cho biết trước kia khi Furama Resort là khu nghỉ mát 5 sao đầu tiên ở miền Trung thì slogan là “Furama – Vietnam’s truly beach resort”, tạm dịch là “Furama – Khu du lịch biển thực sự”.

Nhưng khi vào hè, Furama thay đổi thông điệp là “Summer In Style “5- Star Plus” (được gọi là “Phong cách hè 5 sao”). Đến cuối năm 2005, khi bãi biển Furama resort được bình chọn là một trong 6 bờ biển đẹp nhất thế giới, thì slogan của Furama resort là “Best Beach Break on the Best Beach of the World”, (tạm dịch là “Tận hưởng cuộc sống trên bãi biển đẹp nhất hành tinh”).

Tuy nhiên, với những tập đoàn hay công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo những sản phẩm có tính kỹ thuật cao thì việc thay đổi không phải lúc nào cũng đơn giản.

Theo ông Lê Minh Thắng, Giám đốc quan hệ đối tác kinh doanh của Lenovo Việt Nam thì slogan của những hãng này thường đi kèm trên dòng sản phẩm và mang tính làm thương hiệu nhiều hơn là mang tính gây ấn tượng cho khách hàng. “Vì mọi slogan đều phản ánh chiến lược riêng của mỗi hãng. Đặc biệt là đối với những tập đoàn hay công ty lớn thì việc thay đổi slogan là thay đổi trên bình diện toàn cầu nên chi phí rất lớn”, ông Thắng cho biết.

Cụ thể, với Lenovo, việc xây dựng slogan dựa trên phản ứng của thị trường chứ không đưa ra thời hạn bao lâu để có được slogan. Sau khi sản phẩm đã được đưa ra thị trường, kết hợp với công ty nghiên cứu thị trường thăm dò phản ứng của khách hàng về dòng sản phẩm đó rồi mới đưa ra slogan phù hợp.

Theo ông Martin Roll, chi phí để tạo ra slogan do công ty tự xác định cũng như phụ thuộc vào chi phí mà công ty thiết kế, sáng tạo ra nó đưa ra. Ông lấy ví dụ khi slogan của hãng giầy Nike (Mỹ) là “Just do it” (tạm dịch là “Hãy làm điều đó”) được tạo ra, nó hầu như chẳng tốn kém gì. “Thế nhưng ngày nay, slogan này là một trong những slogan được nhận biết nhiều nhất trên thế giới”, ông Martin Roll cho biết.

Một số doanh nghiệp, công ty thuê các công ty quảng cáo sáng tạo ra slogan cho mình trong khi một số khác lại tự “chế” ra nó. Ví như Furama resort, ông Sean Halliday cho biết là Khu nghỉ dưỡng đã tự mình làm tất cả các slogan thay vì phải thuê người ngoài làm.

Với Eurowindow, ông Hồng cho biết chi phí xây dựng slogan “Cửa sổ nhìn ra thế giới” không phải là quá lớn nhưng để duy trì slogan hiệu quả trong tâm trí người tiêu dùng thì công ty phải chấp nhận đầu tư rất lớn về tiền bạc, chất xám trong một thời gian dài.

( Theo Doanh nghiệp và Thương hiệu )

Advertisements

Posted in Slogan | Chức năng bình luận bị tắt ở Giá trị của slogan

Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Slater, bạn của nhà đầu tư nhỏ

Posted by powerfulslogan trên Tháng Một 14, 2007

Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Slater, bạn của nhà đầu tư nhỏ
CẬP NHẬT: 14/01/2007 11:01:03 (GMT+7)
 

n TS. Phan Minh Ngọc

Phần lớn lời khuyên của Slater trong các cuốn sách của mình có ý nghĩa thông dụng.

Jim Slater có lẽ là người có những lời khuyên ảnh hưởng nhất đối với những nhà đầu tư tư nhân nhỏ. Ông nhấn mạnh rằng nhà đầu tư nhỏ có thể trở thành những chuyên gia đầu tư trong một hoặc hai lĩnh vực của thị trường.

>>Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Linh cảm của Soros

Ông có lẽ là “giáo sĩ” đầu tư đầu tiên ở Anh, khuyên rằng nên tìm kiếm những cổ phiếu có chỉ số P/E thấp. Theo ông, nhà đầu tư nhỏ, bình dân có một số lợi thế so với những nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp.

Trước tiên, nhà đầu tư nhỏ có ít tiền để đầu tư hơn nên họ có thể đầu tư với hiệu quả cao hơn vào những công ty nhỏ hơn. Thứ hai, các nhà đầu tư nhỏ khó có khả năng đầu tư vào hơn 10 công ty. Điều này có nghĩa là họ có thể chọn ra được các công ty tốt nhất thuộc top 10. Nếu so sánh thì các nhà đầu tư chuyên nghiệp sẽ có một danh mục đầu tư lớn hơn nhiều và không thể tránh khỏi trong số đó có những công ty không phải là thuộc nhóm tốt nhất.

Phần lớn lời khuyên của Slater trong các cuốn sách của mình có ý nghĩa thông dụng. Ông khuyên nên đầu tư vào các công ty có lợi thế cạnh tranh. Điều này có thể có từ một thương hiệu tốt hoặc bản quyền sở hữu trí tuệ như của các công ty dược phẩm trong một số loại thuốc. Một khi nhà đầu tư đã xác định được một công ty với lợi thế cạnh tranh rồi thì anh ta nên nhìn vào công ty có tốc độ phát triển nhanh.

Ông định nghĩa công ty có tốc độ phát triển nhanh là công ty có tốc độ tăng cổ tức trên mức trung bình. Ông cũng cho rằng công ty nào có thể “nhân bản” một hoạt động kinh doanh nào đó, ví dụ như cửa hàng, tiệm ăn, nhà dưỡng lão là công ty có triển vọng tốt.

Slater đồng ý rằng rất khó để đánh giá năng lực quản lý của các công ty, đặc biệt đối với các nhà đầu tư nhỏ vì nhiều công ty thuê những chuyên gia tham mưu để đánh bóng họ lên. Vì vậy, ông gợi ý nên bắt đầu bằng một số phép tính số học. Những nguyên tắc chính là:

– Mỗi năm trong 5 năm qua phải có lãi. Không năm nào có lỗ.

– Nếu trong vòng 5 năm trước công ty có lợi nhuận sụt giảm tại năm nào đó thì nó phải đạt được mức cổ tức cao nhất trong năm gần nhất. Điều này chứng tỏ công ty đang thật sự có động lực để tăng trưởng.

– Cổ phiếu bất động sản được loại trừ vì chúng phụ thuộc vào sự biến động của giá bất động sản chứ không phải là vào tăng trưởng nội lực. Một bất động sản có thể tăng về giá trị nhưng sự tăng này rất có thể không phải là do tài năng quản lý.

– Phải nhận được đánh giá tích cực của các nhà môi giới về triển vọng phát triển. Ưu điểm của phương pháp này là nhà đầu tư có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác. Kỹ thuật của Buffett và Soros xác định được cái mà không ai khác biết được – hoặc là giá trị ẩn tàng, hoặc là một xu hướng chưa được nhận biết trên thị trường – đòi hỏi ít nhất phải có những nghiên cứu chuyên sâu, và có lẽ phải có thêm cả tiếp cận đến những thông tin mà nhà đầu tư nhỏ khó có thể tiếp cận được.

– Slater thận trọng với những công ty trong những ngành có tính chu kỳ như xây dựng và kiến thiết. Để được coi là cổ phiếu có triển vọng phát triển thì chúng vẫn phải thỏa mãn được các chỉ tiêu nêu trên.

– Cuối cùng, Slater khuyên nên nhìn vào tốc độ tăng trưởng P/E thay vì bản thân chỉ số P/E (với một số giải thích và chuẩn mực cụ thể).

Một lời khuyên có ý nghĩa khác của ông là nên tránh những công ty mà chủ tịch của chúng sống quá hào nhoáng. Biển số xe “thửa” là một dấu hiệu xấu. Cũng là một dấu hiệu xấu nếu ông chủ tịch đoạt được nhiều quyền lợi trong một câu lạc bộ bóng đá. Thâu tóm cá nhân (và/hoặc tự tôn) lớn thì lợi nhuận sẽ nhỏ.

 

Posted in Stock Exchange | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Slater, bạn của nhà đầu tư nhỏ

Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Linh cảm của Soros

Posted by powerfulslogan trên Tháng Một 14, 2007

Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Linh cảm của Soros
CẬP NHẬT: 13/01/2007 02:01:20 (GMT+7)
 

n TS. Phan Minh Ngọc

Soros là một nhà buôn chứng khoán bằng trực quan, linh cảm.

Sinh trưởng ở Hungary, mang dòng máu Do Thái và là con của một tù binh chiến tranh, George Soros chạy sang Anh lánh nạn phát xít và vào học tại Học viện Kinh tế London.

>>Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Lạnh lùng như Buffet

Sau khi tốt nghiệp, Soros xin được một việc làm trong khu tài chính London, kiếm được 5000 USD rồi sang New York.

Vào lúc đó, nhà đầu tư Mỹ ít chú ý đến thị trường châu Âu, trong khi Soros biết rõ về nó. Ông thấy rằng hãng bảo hiểm Allianz của Đức có giá trị hơn nhiều so với mức mọi người nghĩ. Ông viết một bản kiến nghị mua. Hai khách hàng của công ty môi giới nơi ông làm việc ở Wall Street tỏ ý quan tâm.

Tuy vậy, ban giám đốc của Allianz nổi giận vì bản kiến nghị của Soros như chứng tỏ rằng họ chẳng đánh giá đúng được giá trị tài sản riêng của mình. Họ viết một lá thư dài phản bác lại nhận định của Soros, nhưng rốt cuộc Soros đúng. Khách hàng của ông mua cổ phiếu của Allianz và thu lợi lớn.

Chiến thắng này làm tiếng tăm của Soros nổi lên. Ông thành lập quỹ đầu tư của mình năm 1969, nhưng sau khi đã trở nên giàu có, ông lại tập trung vào việc gây quỹ ở Hungary cho các mục tiêu dân chủ và xã hội.

Khi nghiên cứu tư tưởng của Soros, cần nhớ Soros là một người sống sót trong bàn tay của phát xít và là con của một tù binh. Vì vậy, Soros dường như mạo hiểm hơn Warren Buffett. Không phải ngẫu nhiên mà Soros sẵn sàng đánh bạc, lăn vào các cơn xáo động, “giết” đối thủ, và rút lui. Phương châm đối mặt với rủi ro cao này cũng có nghĩa là Soros từng bị thua lỗ lớn nhiều. Điều này trái ngược với phương châm của Buffett là giảm thiểu thua lỗ về vốn.

Chiến lược của Soros cũng phản ánh các ý tưởng tâm lý học và xã hội học của nơi ông tốt nghiệp, Học viện Kinh tế London. Ông cho rằng điều trọng yếu là không đánh giá giá trị của cổ phiếu hay hàng hóa, mà đánh giá các quan niệm về một tài sản và nhận ra được thời điểm khi tài sản đó và các quan niệm thay đổi.

Ông cũng cho rằng thị trường giúp định hình giá trị và quan niệm. Giá trị không phải là một cái gì đó mà một kế toán viên lành nghề trong một công ty có thể xác định được, mà là một thực thể thay đổi, linh động hơn nhiều.

Tóm tắt lại tư tưởng của mình, Soros tin rằng có 6 giai đoạn trong quá trình phát triển của một trạng thái đầu tư.

Giai đoạn thứ nhất là một xu hướng chưa được nhận ra trên thị trường.

Giai đoạn hai là khi xu hướng trở nên rõ nét hơn. Sự sụt giá mạnh của American Express năm 1982 từ 62 USD xuống 35 USD là một ví dụ điển hình của chuyện này. Thị trường trong trạng thái lo sợ làm trầm trọng thêm xu hướng giảm giá.

Giai đoạn thứ ba là một cái test (phép thử) thành công trên thị trường. Đó có thể là một sự kiện tương tự đã xảy ra trước, với kết cục khẳng định thêm xu hướng quan sát được.

Giai đoạn thứ tư là sự phân hóa ngày càng lớn giữa thực tại và quan niệm. Ví dụ, với những người đã chót “ôm” cổ phiếu đang có chiều hướng mất giá, họ thường tự trấn an bằng cách tìm kiếm những thông tin để củng cố quan niệm của mình (rằng cổ phiếu đang giữ sẽ lên giá).

Cao trào là giai đoạn thứ năm, ví dụ, là những ngày “đen tối” – xảy ra hoảng loạn với cao trào bán tháo trên thị trường, và là thời cơ vàng của những nhà đầu cơ tấn công thị trường như Soros trong cuộc khủng hoảng tỷ giá bảng Anh năm 1992.

Giai đoạn cuối cùng được Soros gọi là “hình phản chiếu ngược qua gương”, khi mà xu hướng thị trường quay ngược trở lại và giá cả phục hồi.

Như vậy, trung tâm trong nguyên tắc của Soros là sự khác biệt giữa hình ảnh và thực tại. Sự khác biệt lớn giữa Soros và Buffett là ở chỗ Buffett, theo đúng nguyên tắc của Graham trước đây 40 năm, tính toán – hay vẫn nói rằng ông tính toán – trên cơ sở các giá trị ẩn tàng của các tài sản, còn Soros thì đúng hơn là một nhà buôn bằng trực quan, linh cảm.

 

Posted in Stock Exchange | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Linh cảm của Soros

Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Lạnh lùng như Buffet

Posted by powerfulslogan trên Tháng Một 14, 2007

Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Lạnh lùng như Buffet
CẬP NHẬT: 12/01/2007 05:01:30 (GMT+7)
 

n TS. Phan Minh Ngọc

Buffett có một số kiêng kỵ. Ông thừa nhận rằng có “vận đen” trong một số ngành như bán lẻ.

Warren Buffett sinh năm 1931 ở một thị trấn nhỏ tên là Ohama. Gia đình ông có mối quan tâm lớn đến thị trường chứng khoán.

>>Một số nguyên tắc đầu tư thành công

Ông học được bài học lớn đầu tiên về đầu tư chứng khoán vào năm 11 tuổi khi “gà” cho người chị của mình đầu tư toàn bộ “tài sản” riêng (100 đôla) mua 3 cổ phiếu (với giá 38 đôla/cổ phiếu) của một công ty nhỏ. Giá cổ phiếu công ty này sau đó tụt giảm mạnh và người chị đã rất lo sợ, muốn bán ngay để gỡ gạc lại chút vốn còm, trong nỗi ân hận nghe lời đứa trẻ xui dại.

May thay, giá cổ phiếu đó đã tăng trở lại và cậu bé đã vội bán với giá 40 đôla/cổ phiếu, thu lãi được chút đỉnh cho người chị sau khi trừ phí giao dịch. Điều làm ông bực mình nhất là giá cổ phiếu đó còn tăng lên đến 100 đôla sau một thời gian ngắn. Đứa trẻ Buffett đã phải chịu thua áp lực của khách hàng, nhưng cậu ta cũng học được một bài học có giá trị từ đây.

Khi đã thành một nhà đầu tư chuyên nghiệp, Buffett hiếm khi nói cho khách hàng biết ông đang làm gì với tiền của họ bởi vì điều này chỉ làm họ lo lắng thêm – và chỉ ngăn cản ông đưa ra những quyết định lạnh lùng, tỉnh táo để tăng thêm lợi nhuận cho họ.

Ở tuổi thanh niên, đang học tại Đại học Pennsylvania, Buffett đã tích góp đủ tiền để đầu tư mua đất tại Nebraska. Tư tưởng thích kiếm tiền từ thuở bé đã làm ông không dừng ở đây. Ông đã liên hệ để trao đổi ý tưởng với và xin làm việc cho Benjamin Graham, lúc đó đang điều hành một doanh nghiệp đầu tư 4 người, có lẽ là “tiệm đầu tư” đầu tiên cho đến lúc đó.

Graham là người khởi xướng cho khái niệm tìm kiếm các giá trị ẩn tàng. Ông chú mục vào 2 chỉ tiêu chính: tỷ trọng hàng tồn kho trên doanh thu và tỷ trọng nợ trên vốn góp cổ đông. Graham từ chối đầu tư vào các công ty có nợ nhiều hơn vốn cổ đông. Ông cũng tin rằng có thể tìm ra những công ty mà giá trị ròng của nó không phản ánh qua giá trị cổ phiếu.

Buffett hấp thu những tư tưởng này của Graham, cũng như của Phillip Fisher – một nhà đầu tư rất thành công. Ông này quan tâm đến trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp thể hiện qua các tài khoản và tỷ lệ tồn kho. Fisher có một nguyên tắc mà Buffett không bao giờ quên: Nhà đầu tư vào một công ty nào đó chỉ nên làm hậu thuẫn cho các nhà quản lý giỏi của công ty, chứ không được tự mình quản lý công ty đó.

Ở tuổi 25, Buffett đã thuyết phục thành công hàng xóm của mình ở Ohama góp 100.000 đôla (tương đương với 1 triệu đôla giá hiện tại) vốn đầu tư với mình. Ông thỏa thuận với các đối tác là sẽ mang lại ít nhất 6% lãi, và ông sẽ được hưởng 25% trên số lãi vượt mức 6% này.

Trong một bức thư gửi các đối tác, ông viết: “Tôi không thể cam đoan về kết quả đầu tư với các ông, nhưng tôi có thể và xin cam đoan rằng: (i) các khoản đầu tư của chúng ta sẽ được lựa chọn trên cơ sở giá trị; (ii) mô thức đầu cơ của chúng ta sẽ cố gắng làm giảm thiểu thua lỗ vốn vĩnh viễn (chứ không phải thua lỗ danh nghĩa trong ngắn hạn)”.

Buffett đã mang lại cho các đối tác hơn 6% lợi nhuận. Những đối tác đầu tiên này đều đã trở thành triệu phú. Ước tính có đến 52 người ở ở Ohama đã thành triệu phú nhờ đầu tư với Buffett trong một vài năm đầu tiên.

Tuy nhiên, năm 1969, Buffett quyết định thời vận của mình đã chấm dứt, trong bối cảnh thị trường chứng khoán trở nên nóng bỏng trong suốt thập kỷ 60, làm cho nhiều loại chứng khoán trở nên quá đắt đỏ. Ông rút lui khỏi thị trường và phải khổ sở với hiện thực là hầu như không còn đầu tư chứng khoán nữa.

Sự rút lui này quả là đúng lúc, và ông đã không bị mất tiền trong cơn suy thoái của thị trường năm 1973-74. Đây cũng là cơ hội tuyệt vời để mua chứng khoán với giá thấp cho đến tận cuối năm 1974.

Khi Buffett trở lại thị trường, ông nói cảm giác lúc đó “như một gã đàn ông lạc vào chốn cấm cung toàn phụ nữ”, khi có quá nhiều cơ hội. Tất cả những khỏan đầu tư mới sau này, chủ yếu là ngành truyền thông, đều rất thành công.

Có thể lý giải một phần động cơ đầu tư của ông vào ngành truyền thông là bắt nguồn từ truyền thống gia đình (cha và ông của Buffett đều là những nhà sản xuất, biên tập báo chí). Nhiều trong số ý tưởng đầu tư của ông cũng bắt nguồn từ cái gốc gác dân “tỉnh lẻ” của mình. Ông ghét những công ty nào hay thay đổi cái hay cách thức họ đang làm. Sự ổn định là một dấu cộng. Những cái tên lớn ở Mỹ cũng vậy. Vì thế 2 trong số những khoản đầu tư thành công của ông là Coca Cola và Walt Disney, 2 biểu tượng của Mỹ.

Nhìn từ khía cạnh tâm lý học thì Buffett là một con chiên của chủ nghĩa hình thái. Ông nhấn mạnh rằng bạn phải tập trung vào các ưu điểm của một công ty trong một khối tổng thể, thay vì chỉ nhìn vào, ví dụ, cái giá mà mình sẽ thu được khi chia nhỏ và bán các tài sản khác nhau của nó.

Một trong những ví dụ về tư tưởng này là việc ông đầu tư vào American Express. Năm 1982, hãng này bị thua lỗ lớn vì vướng vào một vụ tai tiếng liên quan đến dầu trộn salad. Giá cổ phiếu của nó giảm mạnh từ 62 USD xuống còn 35 USD. Thiên hạ đồ rằng hãng này sắp bị phá sản, và báo chí thì liên tục đổ thêm dầu vào lửa.

Buffett nhìn sự việc lạnh lùng hơn. Ông phân tích các ngành kinh doanh cơ bản của hãng này – du lịch, thẻ tín dụng, séc lữ hành. Những lĩnh vực này không bị ảnh hưởng bởi vụ tai tiếng trên. Là một người theo chủ nghĩa hình thái, ông nhìn toàn bộ hãng và cho rằng nó vẫn tốt. Thị trường đã quá hoảng sợ và phóng đại mức độ nghiêm trọng của thảm họa. Ông đã mua rất nhiều cổ phiếu của hãng này và trong vòng ít năm, giá của nó đã tăng từ 35 USD lên 189 USD.

Một trong những tư tưởng chính của Warren Buffett là cuối cùng thì giá trị thực của cổ phiếu sẽ được phản ánh qua giá thị trường. Thủ thuật ở đây là phải nhìn ra được giá trị thật của nó trước người khác, rồi mua rẻ – và sau đó phải sẵn sàng chờ đợi thời cơ. Tất nhiên nhìn ra được giá trị thực của cổ phiếu không phải đơn giản vậy – và ông không bao giờ tiết lộ các phép tính chi tiết ông sử dụng để đánh giá giá trị thực của một công ty và dự đoán giá của nó sẽ lên đến bao nhiêu.

Tuy vậy, cũng cần biết rằng Buffett có một số kiêng kỵ. Ông thừa nhận rằng có “vận đen” trong một số ngành như bán lẻ. Gốc gác “nhà quê” cũng làm ông rất lo ngại với cổ phiếu nông nghiệp vì ông biết rõ là nhà nông thường có mức tồn kho lớn, một điều mà Graham tối kỵ.

Khi đã trở thành người nổi tiếng, Buffett luôn nhấn mạnh sự bình dị của mình. Ông sống ở Ohama trong ngôi nhà ông mua từ những năm 50. Dưới đây là một trong số những phương châm của ông được nhắc đến nhiều nhất:

Nguyên tắc 1: Không bao giờ để mất tiền

Nguyên tắc 2: Không bao giờ được quên nguyên tắc 1

Và một câu nói mang tính tôn giáo: “Thị trường như Chúa cứu giúp những ai tự cứu giúp mình. Nhưng khác với Chúa, thị trường không tha thứ cho những ai không biết phải làm gì”.

Những câu nói trên củng cố thêm hình ảnh bình dị của Buffett như bất kỳ một người Mỹ bình thường nào khác. Tuy vậy, nhiều người biết rõ đây là một hình ảnh bị bóp méo đôi chút. Không phải ngẫu nhiên có tác giả đã đặt tên cho cuốn sách của mình về Buffett là “The Midas Touch” (tạm dịch: “Cái chạm của Midas”).

Những nguyên tắc đầu tư của Buffett xem ra có vẻ đơn giản nhưng để thực hiện được chúng thì phải có toàn bộ sự nhiệt thành, cam kết, và sự tập trung cao độ vào thị trường, một năng lực tính toán hơn người, và sự tiếp cận với những thông tin mà bình thường là điều bất khả đối với những ai ít có các quan hệ.

 

Posted in Stock Exchange | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán: Lạnh lùng như Buffet